Mạo Tính Lang Gia

Chương 47. Nương Tử Phân Phó, Bắt Người!

Tạ Tinh Hàm bán tín bán nghi, sai gia bộc đưa lên.

Nhạc Bàng trơ mắt nhìn bức thư được truyền vào trong xe, vừa hạnh phúc vừa căng thẳng, đồng thời đối với Vương Dương khâm phục đến mức ngũ thể đầu địa.

Vương Dương thì đang suy nghĩ: Nếu xuất hiện tình huống xấu nhất, nên thoát thân như thế nào?

Tạ Tinh Hàm mở tờ giấy thư ra, thấy trên đó viết một bài thơ:

“Lạc thác giang hồ tái tửu hành, Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh. Đông Sơn tổng vị thương sinh khởi, doanh đắc phong lưu tể tướng danh.

Bôi tửu phiên nhưỡng kiêu thần lệ, xao kỳ kinh phá Bắc Địch tâm. Ngũ vạn bồ quỳ năng phá hạ, bán thưởng lương phong vạn tái tình.”

Sau bài thơ còn có một dòng chữ nhỏ: “Tạ Thái phó giúp tiên tổ ta bán năm vạn quạt bồ quỳ, ân tình đó đến nay chưa báo. Bài thơ này vừa truy tư cao nghĩa của Tạ Thái phó, lại vừa là tâm khế của ta. Tâm khế giả, khế ở trong tâm, chỉ mong một lần báo đáp! Mong Tạ nương tử chớ từ chối! Lời không diễn hết ý, Dục Dương Nhạc Bàng dập đầu.”

Tạ Thái phó chỉ chính là Tạ An.

Tạ An là phong lưu tể tướng thiên cổ, là nhân vật lãnh tụ của Trần Quận Tạ thị thời Đông Tấn. Đương nhiên cũng là tiền bối đồng tộc của Tạ Tinh Hàm. Mà điều Vương Dương không biết là, tính từ gia phả, phụ thân của Tạ Tinh Hàm là Tạ Phỉ, là cháu năm đời của Tạ Vạn - đệ đệ ruột của Tạ An. Nói cách khác, nhánh này của Tạ Tinh Hàm tuy không tính là hậu nhân đích truyền trực hệ của Tạ An, nhưng cũng không khác biệt là bao, tuyệt đối không phải những mạch nhánh xa xôi có thể so sánh.

Quan trọng hơn là, Tạ Phỉ ngưỡng mộ con người của tiên tổ Tạ An, thường có lòng noi theo. Tạ An lại cực kỳ yêu quý chất nữ Tạ Đạo Uẩn, mà Tạ Tinh Hàm lại có danh xưng là “Tiểu Tạ Đạo Uẩn”.

Cho nên bất luận từ góc độ vinh quang trong tộc hay giáo dục gia môn, đều có thể tưởng tượng được, mức độ ngưỡng mộ của Tạ Tinh Hàm đối với vị tiên tổ này.

Bởi vậy bài “Vịnh Tạ An” này của Vương Dương, đúng là có thể gọi là “vuốt mông ngựa” vuốt đúng đối tượng!

Bốn câu đầu của bài thơ này sửa từ bài “Khiển Hoài” của Đỗ Mục, ngầm hợp với điển cố Tạ An mang theo kỹ nữ vào Đông Sơn, sĩ đại phu bảo nhau rằng “An Thạch không ra, bá tánh biết làm sao”. Câu thứ năm nói về việc Tạ An ngăn cản Hoàn Ôn xưng đế; câu thứ sáu ca ngợi trận Phì Thủy, Tạ An nhàn nhã đánh cờ lui binh. Câu bảy câu tám kể về một dật sự liên quan đến Tạ An, cũng là nguồn cảm hứng cho “đại kế đưa thư” lần này của Vương Dương.

[1]: Trong bối cảnh hiện đại, từ “phong lưu” đa số trường hợp gắn liền với nghĩa xấu, đây là kết quả của việc thu hẹp nội hàm từ vựng. Thực ra thời cổ đại, đặc biệt là Ngụy Tấn Nam Bắc triều, “phong lưu” không chỉ có nghĩa là chuyện nam nữ, mà phần lớn thời gian dùng để miêu tả danh sĩ phong độ. Tuy nhiên chuyện Tạ An ôm kỹ nữ quả thực có chút “phong lưu”.

[2]: Lúc bấy giờ thể thơ vẫn chưa diễn tiến ra cận thể thi, cho nên vẫn chưa chú trọng bình trắc cách luật, nhưng trong kinh thành đang ấp ủ một cuộc cách tân thi ca, sau này trở thành mầm mống của thơ cách luật. Nhưng có nhân vật chính xuyên không, tiến trình này tự nhiên sẽ không giống như trước nữa. Chuyện này trong Kim Lăng quyển sẽ có tường thuật chi tiết.

[3]: Hai chữ Tinh, Hàm tuy quen thuộc với độc giả hiện đại, nhưng lại là chữ thường dùng trong tên người xưa. Trước tiên nói về chữ Hàm, Đường Văn Tông tên thật là “Hàm”, lúc bấy giờ có một sĩ đại phu tên là Trịnh Hàm vì để tị húy nên đổi tên thành “Trịnh Hãn”. “Dậu Dương Tạp Trở” ghi chép thời Bắc Ngụy chùa Bồ Đề mở mộ lấy gạch, tìm được một người tên là “Thôi Hàm”. Nữ ni trong “Thẩm Ẩn truyện” của Toàn Tổ Vọng tên là Hàm Quang. Còn về chữ Tinh, nữ nhi duy nhất của đại thi nhân Thôi Thự thời Đường tên là “Tinh”, thời Minh có danh sĩ tên Chu Tinh, đại thư pháp gia Trần Triệu Luân tự Tinh Trai.

Dùng “Tinh Hàm” ghép lại làm tên có lẽ có cũng có lẽ không, tôi thì chưa từng đọc thấy. Nhưng cũng không phải là tự tạo ra, “Ngũ Tạp Trở” viết: “Nguyệt vầng, tinh hàm, tư chi kỳ dã”. Lưu Hiếu Uy thời Nam Lương có câu “Tiền tinh hàm thụy thải, tiến lôi dương viễn thanh”, nổi tiếng hơn nữa là câu của Hàn Dũ “Thả đãi dạ thâm thừa nguyệt khứ, thí khán hàm vịnh kỷ đa tinh”.

Tên nữ tử thời trung cổ có những cái tên phù hợp với bối cảnh văn hóa quen thuộc hiện đại, ví dụ như Dương Diễm, Dung Cơ, Tả Phân, Lý Lăng Dung, Hồ Phương v.v., cũng có những cái tên bây giờ nhìn căn bản không giống tên phụ nữ, ví dụ như Trương Uy Đức, Lưu Đoan Nghiêm, Tăng Di Lặc, Vương Mục Chi v.v.

Trong lịch sử, một đồng hương của Tạ An bị cách chức, trước khi về quê có tồn đọng năm vạn chiếc quạt bồ quỳ. Tạ An vì muốn giúp đồng hương, bèn lấy một chiếc quạt ra tự dùng. Sĩ tộc và thứ dân ở kinh đô nghe tin Tạ An dùng quạt bồ quỳ, đều tranh nhau mua theo, cứ thế mà đẩy giá quạt lên cao gấp mấy lần!

Chuyện này được xem là minh chứng sống động cho phong thái của Tạ An, vẫn luôn được lưu truyền rộng rãi, nhưng “đồng hương” được Tạ An giúp đỡ trong câu chuyện lại không để lại tên tuổi. Điều này đã cho Vương Dương không gian để phát huy.

Ý nghĩa hai câu cuối của bài thơ là: Năm vạn chiếc quạt bồ quỳ cùng quạt, đủ để xua tan mùa hè oi bức, cho dù chỉ có gió mát trong chốc lát, nhưng tình nghĩa lại có thể lưu giữ muôn đời.

Có tình nghĩa thì có thể báo đáp, báo đáp qua lại, chuyện này chẳng phải là có manh mối rồi sao?