Kiếp Thiên Vận (Dịch)

Chương 6. Con Đường Về Thôn

Vị trí mẹ tôi sống và cái thôn của bà nằm ở hai hướng hoàn toàn đối lập. Chính vì vậy, chuyện quay về lần này tôi giấu biệt chẳng nói với mẹ. Thực ra, tôi cũng sợ mẹ phải lo lắng ngày đêm, bởi linh cảm của tôi về chuyến đi lần này tồi tệ đến mức chẳng nói nên lời.

Thứ gọi là linh cảm ấy à, người ta có thể đổ tại cho giác quan thứ sáu, vốn dĩ làm gì có lý lẽ logic nào để giải thích. Thế nhưng giữa chốn âm minh mù mịt, nó thường lại là một sự tiên tri đầy nghiệt ngã.

Thôn của bà ngoại vỏn vẹn chỉ có hai mươi mấy hộ dân, cũng chính là nơi tôi gọi là Tiểu Nghĩa Thôn. Nó nằm lọt thỏm giữa chốn rừng thiêng nước độc, xe cộ bình thường căn bản không thể tiến vào.

Muốn mò được vào thôn, phải cuốc bộ men theo mấy kilomet đường đất từ Kháng Long Thôn. Do đó, cứ mỗi bận trời đổ mưa là đường lầy lội, nửa bước khó đi.

Lúc tôi chuyển sang ngồi xe minivan đến được Kháng Long Thôn, mọi thứ trót lọt suôn sẻ, cũng chẳng đụng phải ngày mưa gió ảm đạm. Có điều sương mù giăng mắc hơi dày, cảnh vật xung quanh cứ mờ mờ nhân ảnh, tầm nhìn bị hạn chế nghiêm trọng.

Cúi xuống nhìn chiếc đồng hồ điện tử trên tay, đồng hồ điểm sáu giờ chiều. Sắc trời chưa đến mức quá tăm tối. Phía Nam trời tối muộn, phải qua tám giờ hơn mới mịt mù đen kịt. Thế nên nếu tính toán theo khung giờ này, lúc tôi lết bộ được vào cái thôn nhỏ của bà ngoại thì trời cũng vừa vặn sập tối.

Giả dụ như bà vẫn bình an vô sự, thì tôi còn được lót dạ một bữa cơm nóng hổi.

Nghĩ vậy, tôi vác cái balo hành lý đơn sơ lên vai, nhắm hướng con đường mòn nhỏ xíu bắt đầu rảo bước về Tiểu Nghĩa Thôn.

“Chàng trai, muộn thế này rồi, cậu còn định đi vào Tiểu Nghĩa Thôn à?”

Trông thấy tôi lầm lũi đi về phía con đường mòn heo hút của thôn, một ông lão vừa bước xuống từ chiếc xe minivan cất tiếng hỏi thăm đầy thiện ý.

“Tôi về thăm người thân.”

“Muộn rồi, chi bằng cậu trọ lại trong thôn một đêm đi. Con đường này về đêm... khó đi lắm.” Ông lão cất giọng nhắc nhở, trên mặt hiện rõ một tia chần chừ đắn đo.

Tôi thừa biết lão đang muốn nói điều gì. Giao thông ở Tiểu Nghĩa Thôn bị cô lập, nó lại là cái thôn nằm ở vị trí chót cùng của mảnh đất này. Người ngoài nếu không phải có họ hàng thân thích thì có cho vàng cũng chẳng ai muốn mò vào. Thêm vào đó, thanh danh của bà ngoại tôi lại truyền xa vạn dặm. Lâu dần, người ta bắt đầu rỉ tai nhau rằng Tiểu Nghĩa Thôn âm khí ngút ngàn, chứa chấp những thứ đồ “không sạch sẽ”. Thành thử, hễ màn đêm buông xuống, bất kể có vội vàng cháy nhà hay gấp gáp đứt cổ, cũng tuyệt nhiên chẳng có ma nào dám đi đêm ở con đường dẫn vào Tiểu Nghĩa Thôn.

Nhưng đó là do bọn họ đâu tỏ tường tình cảnh của Tiểu Nghĩa Thôn. Xét cho cùng, hơn phân nửa cuộc đời tôi đều cắm rễ ở chốn ấy, người trong thôn chẳng có ai là tôi không quen mặt. Nhớ lại cái dạo còn đi học trên trấn, chiều về đến nơi thường đã là năm sáu giờ, cuốc bộ về đến Tiểu Nghĩa Thôn lúc tám hay chín giờ tối cũng là chuyện cơm bữa.

Trẻ người non dạ, chưa từng đụng mặt sơn tiêu quỷ mị hàng thật giá thật bao giờ nên gan tôi to tày trời. Quan trọng nhất là, tôi đi đêm nhiều như thế mà bà ngoại chẳng buông lời quở trách nửa câu, nên riết rồi cũng quen.

Ông lão thấy tôi một mực muốn đi, biểu cảm lại chẳng có nửa điểm cợt nhả nên cũng không dám mở miệng khuyên can thêm. Trên mảnh đất sỏi đá này, chẳng ai rảnh rỗi đi quản chuyện bao đồng của người khác, đặc biệt là những kẻ nằng nặc đòi vào Tiểu Nghĩa Thôn.

Tiểu Nghĩa Thôn rốt cuộc là cái xó xỉnh quái quỷ nào? Tương truyền từ thời xa xưa trước ngày lập quốc, đi sâu vào phía sau Tiểu Nghĩa Thôn còn có một thị trấn nhỏ. Một trận dịch bệnh quét qua năm ấy đã cướp đi sinh mạng của toàn bộ người sống. Còn bản thân Tiểu Nghĩa Thôn, xưa kia vốn dĩ ngay cả cái danh xưng “thôn” cũng chẳng có tư cách được gọi. Nó chỉ là một nghĩa trang tồi tàn chuyên dùng để chất đống xác chết nằm trơ trọi bên ngoài thị trấn. Nơi đó đã bị bỏ hoang ròng rã không biết bao nhiêu năm tháng. Mãi đến lúc bà ngoại tôi đặt chân tới, mới khai sinh ra cái gọi là Tiểu Nghĩa Thôn với dân số lèo tèo chưa qua nổi ngưỡng hai mươi hộ gia đình.

Tất nhiên, mấy chuyện này cũng chỉ là tôi nghe lão Trương hàng xóm buôn dưa lê kể lể chuyện xưa, chứ bản thân cũng chẳng mảy may coi là thật.

Đêm lạnh như nước. Con đường mòn chật hẹp, ngoằn ngoèo khó đi vô cùng.

Những lùm cây bụi và khu rừng rậm rạp xung quanh vẫn nguyên vẹn như ngày nào. Mỗi bận gió đêm tràn qua, cành lá lại cọ xát vào nhau tạo ra những tiếng xào xạc rợn người. Lâu lâu, tiếng chim ăn đêm lại cất tiếng kêu ai oán, dệt nên một bầu không khí u ám, lạnh lẽo đến mức không thể diễn tả thành lời.

Trên con đường mòn bao phủ bởi sương mù đặc quánh, cách xa tầm sáu, bảy mét là đã mù tịt chẳng phân định nổi thứ gì. Giả dụ như có người quen đi ngược chiều tiến lại, mà không hề phát ra tiếng bước chân, thì cùng lắm chỉ thấy bóng dáng lờ mờ lướt qua.

Xào... xạc... xào... xạc.

Chẳng rõ bản thân đã lầm lũi cuốc bộ được bao lâu, bỗng một thanh âm kỳ lạ truyền đến. Nghe như tiếng bước chân, mà lại cũng ràn rạt như thể có loài thú hoang nào đó đang trườn qua bụi rậm. Thứ âm thanh đó bám riết bên cạnh tôi từ lúc nào chẳng hay. Tôi vốn cũng chẳng phải loại hiền lành gì cho cam, nhưng nghe thấy động tĩnh này cũng bất giác khựng lại. Sợ nhỡ đâu vớ phải giống rắn độc mượn đường cắn lén, tôi bèn vội vã bẻ một cành cây ghim chặt trong tay làm vũ khí.