Kiếp Thiên Vận (Dịch)

Chương 8. Tiếng Hát Đồng Dao

“Ngàn đóa hoa, vạn đóa hoa, bay bay bay, lả tả rơi, đắp lại đắp, đắp người tuyết, chẳng sợ lạnh, chẳng sợ rét...”

Lẫn trong đống thi thể kia có cả trẻ em, phụ nữ và người già. Da thịt họ ngâm nước lâu ngày trương phềnh, trắng bệch, thậm chí trên mặt vài cái xác còn nhung nhúc giòi bọ bò lúc nhúc. Thảm trạng chết chóc ấy kinh dị đến tột cùng.

Đám thi thể sau khi được vớt lên liền bị những kẻ mặc áo cà sa chất thành ngọn núi nhỏ, để một nhóm tăng nhân khác tụng kinh làm phép, vẩy nước bùa, rồi mới táng xuống đất.

Đột ngột, tức phụ tỷ tỷ ra sức giật mạnh vạt áo tôi từ phía sau. Bước chân đang chực tiến lên ngay lập tức khựng lại, cả người tôi chết lặng, cứng đờ chẳng thể nhúc nhích.

Một trận sương lạnh buốt quét qua. Tôi hốt hoảng cúi rạp người nhìn xuống gầm cầu lần nữa, nhưng cảnh tượng ban nãy bốc hơi sạch sẽ, chẳng còn chừa lại thứ gì!

Nước suối vẫn róc rách chảy qua chân cầu, đám tăng nhân và lũ trẻ ranh kia cứ như chưa từng tồn tại trên cõi đời này. Lòng tôi cuộn trào muôn vàn mối nghi hoặc. Chẳng lẽ do cơ thể mệt mỏi rã rời nên mình tự sinh ảo giác? Hay là màn sương mù mờ ảo kia đã tạo ra ảo ảnh hải thị thận lâu trong truyền thuyết?

Nhưng còn bài đồng dao quái quỷ kia thì giải thích thế nào? Ảo ảnh mà cũng biết truyền âm vang vọng thế sao?

“Anh Thiên! Sao anh còn đứng thừ ra đó, mau về thôn đi.”

Đúng lúc mình đang quẩn quanh trong mớ tơ vò vì dị tượng dưới gầm cầu, giọng nói trong trẻo của một thiếu nữ chợt vang lên từ đầu cầu bên kia.

Tiếng gọi thình lình khiến tôi giật bắn mình. Vội vã quay đầu lại, lồng ngực tôi thở phào nhẹ nhõm, hóa ra là Úc Tiểu Tuyết - cái đuôi nhỏ lúc nào cũng bám lẽo đẽo theo tôi hồi bé.

Con bé mũi thò lò năm xưa, thoắt cái đã trổ mã thành một thiếu nữ xinh xắn. Nếu trí nhớ không tồi, năm nay em ấy chắc cũng độ mười sáu, mười bảy tuổi. Dạo trước, con bé còn viết thư kể lể muốn đến Quảng Đông làm thuê, nhưng tôi lập tức gạt đi với lý do chưa đủ tuổi làm căn cước công dân. Dẫu sao, tôi cũng tuyệt đối không thể trơ mắt nhìn mầm non hiếm hoi còn sót lại của thôn bị lũ người xấu ngoài xã hội vùi dập được.

Trong lúc đang mải ngẩn ngơ nhìn con bé, tôi sực nhận ra trước cửa nhà em ấy còn có bóng dáng của người cha. Đó là chú Úc Căn. Ánh mắt chú Căn đờ đẫn nhìn chằm chằm về phía tôi, vô hồn, hai môi mím chặt không hé nửa lời.

Thuở bà ngoại mới đặt chân đến, Tiểu Nghĩa Thôn vẫn chỉ là một mảnh đất hoang tàn rợn ngợp. Suốt mấy chục năm ròng rã, người từ khắp nơi mới thưa thớt kéo đến, dần dà tạo nên chút sinh khí. Vậy nên, người khác họ trong thôn rất đông, nguồn gốc tứ xứ đổ về.

“Sao em lại ra đây?” Tôi lên tiếng, cất bước đi về phía cửa nhà họ, định bụng hỏi thăm chú Căn vài câu.

Nào ngờ Tiểu Tuyết lại chạy ào tới, nghẹn ngào nức nở: “Anh Thiên, sao bây giờ anh mới chịu về... Bà ngoại đã ra đi hai ngày rồi, chúng ta mau qua chỗ bà thôi.”

Cổ họng tôi nghẹn đắng, trái tim chớp mắt chìm nghỉm xuống đáy vực sâu. Xem ra, chuyện gì phải đến rốt cuộc cũng gõ cửa, bà ngoại... quả thực đã rời xa cõi đời này rồi.

Khóe mắt cay xè, những giọt lệ chực trào tuôn rơi. Nhưng tôi cắn răng đưa tay day nhẹ mi tâm, nuốt ngược nỗi bi thương vào trong để che giấu đi sự yếu đuối. Dẫu có khóc, cũng phải đợi đến lúc quỳ gối trước linh đường.

Chú Căn không hề cất bước đi cùng chúng tôi. Chú chỉ đứng lẻ loi tít đằng xa, trầm mặc dõi ánh mắt nhìn theo tôi. Chẳng hiểu cớ làm sao, một người vốn dĩ lúc nào cũng ân cần hỏi han tôi như chú Căn, nay lại trở nên lầm lì, câm lặng đến mức đáng sợ.

Màn đêm đặc quánh bủa vây lấy vạn vật. Trên đường đi, tôi để ý thấy đèn điện của các hộ gia đình đã sáng trưng từ thuở nào, song cửa nẻo nhà nào nhà nấy đều cài then đóng chặt. Nghĩ lại cũng chẳng có gì lạ, thôn nghèo dột nát đào đâu ra đèn đường, trời vừa sập tối là không ai nguyện ý ló mặt ra khỏi nhà nửa bước.

Lại nói, ngoài chú Căn ra, tôi phát hiện những người hàng xóm khác cũng rủ nhau đứng lấp ló sau khe cửa, lẳng lặng chằm chằm nhìn tôi bước vào thôn. Cách một quãng khá xa, tôi chẳng màng mở lời chào hỏi, trong bụng thầm nghĩ: “Các người lẹ mắt gớm, tôi vừa về đã tỏ tường.”

Bước chân tôi cuống cuồng lao đến trước cửa nhà bà ngoại. Lụa trắng tang thương đã treo kín lối đi, linh đường cũng dựng tươm tất. Chễm chệ hai bên thềm cửa là một con ngựa giấy còng queo, xếp cạnh một nam một nữ người giấy trắng bệch.

Ấy vậy mà, tuyệt nhiên không bói ra nổi một bóng người lảng vảng quanh đây. Chiếu theo phong tục thường ngày, nhà có tang bối rối chí ít cũng phải dọn dẹp bày biện ra ba năm mâm cỗ, thân thích xóm giềng túm tụm lại rầm rì nói chuyện, nhấp ngụm trà đắng mới phải đạo.

Dẫu vậy, tôi thầm nhủ, bà ngoại là một thần bà đức cao vọng trọng được dân thôn nể phục, có lẽ tang sự của người cũng mang nhiều điểm khác biệt so với kẻ phàm tục.

Trên hai cánh cửa gỗ mục nát dán chặt hình hai vị môn thần do tự tay bà ngoại phác họa. Đường nét nghệch ngoạc, xoắn xuýt vào nhau, nhưng nét bút hạ xuống lại toát lên cỗ lực đạo vô cùng mạnh mẽ. Chạm mắt vào tờ giấy trắng dán trên cột nhà, ghi chép tường tận họ tên, năm tháng ngày giờ sinh tử của người, trái tim tôi nhói lên. Chỉ một cái liếc mắt, tôi đã dư sức nhận ra, những dòng chữ rồng bay phượng múa, cẩu thả tột độ kia, cũng chính là do một tay bà ngoại tự mình chấp bút.