Nhật Nguyệt Phong Hoa (Bản dịch)
Chương 379. Mây mờ tái ngoại, đao Trấn Ma 104
Ninh Chí Phong nói: "Trước kia Đại công tử cũng từng nhắc đến. Hơn mười năm trước, Lão hầu gia hạ lệnh thành lập Bạch Hổ doanh, chính Lưu Văn Hiên đã một tay trù bị xây dựng. Có thể giao phó trọng trách lớn lao nhường ấy cho y, Lão hầu gia đương nhiên vô cùng trọng dụng y. Có điều sau khi dựng xong Bạch Hổ doanh, Lão hầu gia lại điều động người khác đảm nhiệm chức Thống lĩnh, Lưu Văn Hiên chỉ nhận chức Phó thống lĩnh, hơn nữa còn không hề lưu lại quân doanh. Đại công tử từng kể với chúng ta, việc chọn người khác làm Thống lĩnh là do chính Lưu Văn Hiên đề bạt lên Lão hầu gia. Mặc dù một tay kiến thiết Bạch Hổ doanh, nhưng sau khi đại công cáo thành, y lại chỉ treo cái chức danh hữu danh vô thực."
"Quả thực y rất hiếm khi xuất hiện ở quân doanh."
"Y có phủ đệ riêng ở phủ thành." Ninh Chí Phong nói: "Tuy nhiên bình thường y rất ít khi qua lại với người khác, ngay cả Đại công tử một năm cũng chưa chắc gặp được y đến hai lần. Nghe Đại công tử kể, y tinh thông Chu Dịch Bát Quái, am tường kham dư...!" Thấy Tần Tiêu mang vẻ mặt mù mờ, gã cười bảo: "Thực ra ta cũng chỉ nghe bọn họ phiếm chuyện mà biết được chút da lông thôi. Ngươi có biết đạo gia ngũ thuật là gì không?"
Tần Tiêu lắc đầu cười khổ: "Ta chỉ biết đạo sĩ biết thuật luyện đan."
"Đó chỉ là y thuật trong đạo gia ngũ thuật mà thôi." Ninh Chí Phong ngẫm nghĩ một lát mới tiếp lời: "Đạo gia ngũ thuật gồm năm loại: sơn, y, mệnh, bốc, tướng. Thuật luyện đan chỉ là một nhánh trong y thuật đạo gia. Thuật kham dư mà Lưu Văn Hiên giỏi chính là một nhánh trong tướng thuật, còn gọi là thuật xem tướng đất. Môn này cực kỳ thâm sâu, ta cũng chẳng hiểu nhiều lắm."
"Thuật kham dư?" Tần Tiêu nghe đến ngẩn ngơ: "Sao y lại thích cái món này?"
"Cái đó thì chịu rồi." Ninh Chí Phong cười bảo: "Có lẽ do quá mức rảnh rỗi nên y mới dùng để giết thời gian chăng."
Tần Tiêu thầm nghĩ, chuyện đó tuyệt đối không thể nào là để giết thời gian được.
Sáng tinh mơ hôm sau, mọi người nhanh chóng thu dọn hành trang, tiếp tục nhổ trại tiến về phía tây.
Đi ròng rã suốt nhiều ngày đường, tất cả mọi người đều theo khuôn phép cũ mà thi hành chức trách của mình. Khi tiến vào địa phận Phàn quận, Tần Tiêu cảm nhận rõ ràng dân cư ở nơi này thưa thớt đi rất nhiều.
Trong địa hạt Vũ Văn quận, dọc đường đi thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những xóm làng khói bếp lượn lờ, trên bờ ruộng rãnh cày cũng có bóng dáng nông phu gieo hạt.
Thế nhưng thôn mạc ở Phàn quận lại thưa thớt hơn hẳn, nhân khẩu vô cùng vắng vẻ.
"Năm xưa người Ngột Đà xua quân nhập quan, Phàn quận phải gánh chịu tổn thất thê thảm nhất." Cảnh Thiệu đi sát bên cạnh Tần Tiêu cất giọng: "Thiết kỵ Ngột Đà đi qua nơi nào là chó gà không tha, bọn chúng còn tàn bạo hung ác hơn cả cầm thú. Ngoài việc giết người cướp của, chúng còn bắt bớ vô số nhân khẩu từ Tây Lăng, đưa về Ngột Đà làm thân trâu ngựa. Theo ta được biết, có kẻ thậm chí còn bị bán sang Tây Vực làm nô lệ."
Tần Tiêu đăm đăm nhìn mảnh đất Phàn quận nhuốm màu tiêu điều tĩnh mịch, thầm nghĩ trong Tây Lăng Tam đại môn phiệt, nhìn từ bề nổi, gia tộc họ Phàn hiển nhiên là thế lực suy yếu nhất.
Nhân khẩu quá ít ỏi, đất đai lại cằn cỗi bạc màu, điều này tất yếu sẽ dẫn đến nguồn thu thuế má sụt giảm.
Hơn nữa, diện tích của Phàn quận trong số ba quận cũng thuộc hàng chật hẹp nhất, khoan hẵng so đo với Vũ Văn quận, ngay cả so với Chân quận cũng đã kém xa.
"Loạn Ngột Đà năm đó, Đô Hộ quân bị vây khốn tại thành Hắc Dương của Phàn quận." Cảnh Thiệu chậm rãi kể lại: "Lương thảo của người Ngột Đà đều tuân theo nguyên tắc lấy chiến dưỡng chiến, tha hồ cướp bóc khắp Phàn quận. Thậm chí từng có kỵ binh phá vây tràn cả vào ranh giới Vũ Văn quận...!" Nhắc đến đây, giọng nói của y đột nhiên trở nên lạnh lẽo.
Tần Tiêu biết Cảnh Thiệu là người sinh ra và lớn lên ở Vũ Văn quận. Hơn hai trăm nhân khẩu của Cảnh trang hầu như đều chết thảm dưới thiết kỵ của người Ngột Đà, hiển nhiên cũng là do bầy kỵ binh Ngột Đà cướp phá ở Vũ Văn quận gây nên trong khoảng thời gian đó.
"Tây Lăng chìm trong biển máu, Phàn quận mười nhà vắng chín. Vô số người dân phải dứt áo ly hương, bồng bế nhau chạy về phía đông lánh nạn." Y vẫn nhớ như in quãng dĩ vãng bi thương nhường ấy: "Dù cuối cùng người Ngột Đà cũng rút quân, nhưng bách tính trở về Phàn quận chưa nổi một nửa. Bất kể kẻ nào có chút gia sản đều dời về phương đông, chẳng ai còn gan dạ lưu lại Phàn quận nữa. Bởi vậy Phàn quận mới xơ xác tiêu điều như hiện tại."
Tần Tiêu khẽ gật đầu.
Hắn biết loạn Ngột Đà đã giáng xuống đầu bá tánh Tây Lăng một tai ương tàn khốc thấu tận xương tủy. Dẫu mười mấy năm trôi qua, bách tính Tây Lăng vẫn ôm một nỗi sợ hãi tột cùng ngỡ như ác mộng đối với người Ngột Đà.